Nghị định 163/2017 quy định về đầu tư phát triển dịch vụ Logistics

Chia sẽ bạn bè

     Ngày 30/12/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 163/2017/NĐ-CP Quy định về kinh doanh dịch vụ logistics, có hiệu lực từ ngày 20/2/2018, thay thế Nghị định số 140/2007/NĐ-CP ngày 5 tháng 9 năm 2007 quy định chi tiết Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc. Việc ban hành Nghị định này đã “bao quát toàn diện các dịch vụ logistics, nội luật hóa các cam kết quốc tế về logistics” như đề ra trong Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics đến năm 2025, ban hành theo Quyết định  số 200/QĐ-TTg ngày 14/2/2107 (QĐ200) của Thủ tướng Chính phủ. Đây là một bước tiến mới của Chính phủ trong việc cải cách thể chế liên quan đến ngành dịch vụ logistics khi bước vào năm 2018, trong đó có các quy định cụ thể về đầu tư phát triển dịch vụ logistics của Việt Nam.

     Nghị định 140/2007 (NĐ140) ra đời nhằm thực hiện những cam kết của Việt Nam trong WTO về các dịch vụ logistics có liên quan sau khi Quốc hội có Nghị quyết số 71/2006/QH11 ngày 29/11/2006 Phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) của nước CHXNCH Việt Nam. Đến nay, sau hơn 10 năm (2007-2017), qua các mốc thời gian cam kết 2007-2012 (5 năm) và 2014-2017 (7 năm và 10 năm), nhiều quy định của các cam kết đó đã hết hiệu lực về thời gian và đi vào thực hiện như đã cam kết. Vì vậy, nhiều quy định trong NĐ140 không còn phù hợp phải thay đổi. Ngoài ra, thực tiễn hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam, nhất là việc thực hiện các Hiệp định FTA thế hệ mới đòi hỏi phải có những quy định phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi, thông thoáng cho ngành dịch vụ logistics nước ta phát triển, đẩy mạnh đầu tư trong nước và hợp tác quốc tế. Nghị định vẫn phải căn cứ vào Luật Thương mại 2005, trong khi chờ sửa đổi, bổ sung Luật này. Ví dụ: vẫn phải dùng cụm từ “Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics” thay vì doanh nhiệp cung cấp dịch vụ logistics (logistics providers). 

      Về đối tượng điều chỉnh “Nghị định này áp dụng đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics và các tổ chức, cá nhân có liến quan”. Điều 3 của NĐ163 phân loại “dịch vụ logistics được cung cấp” bao gồm 16 loại hình dịch vụ và một mục 17 rất mở là “Các dịch vụ khác do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics và khách hàng thỏa thuận phù hợp với nguyên tắc cơ bản của Luật thương mại”.

     17 loại hình dịch vụ logistics được cung cấp quy định trong Nghị định 163:

  1. Dịch vụ xếp dỡ container, trừ dịch vụ cung cấp tại các sân bay.
  2. Dịch vụ kho bãi container thuôc dịch vụ hỗ trợ vận tải biển.
  3. Dịch vụ kho bãi thuoocjdichj vụ hỗ trợ mọi Phương thức vận tải.
  4. Dịch vụ chuyển phát.
  5. Dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa.
  6. Dịch vụ đại lý làm thủ tục hải quan (bao gồm cả dịch vụ thông quan).
  7. Dịch vụ khác, bao gồm các hoạt động sau: Kiểm tra vận đơn, dịch vụ môi giới vận tải hàng hóa, kiểm định hàng hóa, dịch vụ lấy mẫu và xác định trọng lượng; dịch vụ nhận và chấp nhận hàng; dịch vụ chuẩn bị chứng từ vận tải.
  8. Dịch vụ hỗ trợ bán buôn, hỗ trợ bán lẻ bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa và giao hàng.
  9. Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải biển.
  10. Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường thủy nội địa
  11. Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường sắt.
  12. Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường bộ.
  13. Dịch vụ vận tải hàng không.
  14. Dịch vụ vận tải đang phương thức.
  15. Dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật.
  16. Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác.
  17. Các dịch vụ khác do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics và khách hàng thỏa thuận phù hợp với nguyên tắc cơ bản của Luật thương mại.

     Dịch vụ vận tải đường ống không được nêu trong Nghị định, nhưng dịch vụ vận tải đa phương thức được liệt kê trong 17 loại hình dịch vụ.

     Các điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics

     Điều 4, Mục 1, Nghị định 163 quy định “Thương nhân kinh doanh các dịch vụ cụ thể thưộc dịch vụ logistics quy định tại Điều 3 Nghị định này phải đáp ứng các điều kiện đầu tư, kinh doanh theo quy định của pháp luật đối với dịch vụ đó”.

     Điều 4, Mục 2 quy định “Thương nhân tiến hành một phần hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh logistics bằng phương tiện điện tử có kết nối mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác”, còn phải tuân thủ các quy định về thương mại điện tử ngoài việc đáp ứng theo quy định của pháp luật đối với dịch vụ cụ thể quy định tại Điều 3 Nghị định này.

     Điều kiện đối với nhà đâu tư nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics

     Điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics (Điều 4, khoản 3) quy định ngoài việc “phải đáp ứng các điều kiện đầu tư, kinh doanh theo quy định của pháp luật đối với dịch vụ đó”, “nhà đầu tư nước ngoài thuộc nước, vùng lãnh thổ là thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới được cung cấp dịch vụ logistics theo các điều kiện” quy định cụ thể trong NĐ163 dưới đây:

     1-Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải biển (trừ vân tải nội địa): - Được thành lập các công ty vận hành đội tàu treo cờ Việt Nam hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%.Tổng số Thuyên viên nước ngoài làm việc trên các tàu treo cờ quốc tịch Việt Nam (hoặc đăng ký ở Việt Nam) thuộc sở hữu của các công ty này tại Việt Nam không quá 1/3 định biên của tàu. Thuyền trưởng hoặc thuyền phó nhất phải là công dân Việt Nam.

      - Công ty vận tải biển nước ngoài được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn trong đoanh nghiệp.

     2- Trường hợp kinh doanh dịch vụ xếp dỡ container thuôc các dịch vụ hỗ trợ vận tải biển (có thể dành riêng một số khu vực để cung cấp các dịch vụ hoặc áp dụng thủ tục cấp phép tại các khu vực này), được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 50%. Nhà đầu tư nước ngoài được thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh.

     3- Trường hợp kinh doanh dịch vụ xếp dỡ container thuôc các dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải, trừ dịch vụ cung cấp tại các sân bay, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài  không quá 50%.

     4-Trường hợp kinh doanh dịch vụ thông quan thuộc dịch vụ hỗ trợ vận tải biển, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó có vốn góp của nhà đầu tư trong nước. Nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh.

     5- Trường hợp kinh doanh các dịch vụ khác, bao gồm các hoat động sau: Kiểm tra vận đơn, dịch vụ môi giới vận tải hàng hóa, kiểm định hàng hóa, dịch vụ lấy mẫu và xác định trọng lượng; dịch vụ nhận và cấp nhận hàng; dịch vụ chuẩn bị chứng từ vận tải, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó có vốn góp của nhà đầu tư trong nước.

     6- Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường thủy nội địa, dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường sắt, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không qúa 49%.

     7- Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường bộ, được thực hiện thông qua hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không qúa 51%. 100% lái xe của doanh nghiệp phải là công dân Việt Nam.

     8- Trường hợp kinh doanh dịch vụ hàng không thực hiện theo quy định của pháp luật về hàng không.

     9- Trường hợp kinh doanh dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật:

      - Đối với những dịch vụ được cung cấp để thực hiện thẩm quyền của Chính phủ được thực hiên dưới hình thức doanh nghiệp trong đó có vốn góp của nhà đầu tư trong nước sau ba năm hoặc dưới hình thức doanh nghiệp trong đó không hạn chế vốn góp nhà đầu tư nước ngoài sau năm năm, kể từ khi nhà cung cấp dịch vụ tư nhân được phêp kinh doanh các dịch vụ đó.

      - Không được kinh doanh dịch vụ kiểm định và cấp giấy chứng nhân cho các phương tiện vận tải.

      - Việc thực hiện dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật bị hạn chế hoạt động tại các khu vực địa lý được cơ quan thẩm quyền xác định vì lý do an ninh quốc phòng.

      Ngoài ra, (Điều 4, khoản 4) còn quy định trường hợp nhà đầu tư nước ngoài thuộc đối tượng áp dụng các điều ước quốc tế có quy định khác nhau về điều kiện kinh doanh dịch vụ logisitics, nhà đầu tư được lựa chon áp dụng điều kiện đầu tư quy định tại một trong các điều ước

      Như vậy, theo quy định của NĐ163 các nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư dưới các hình thức hiện diện thương mại: Văn phòng đại diện, hợp đồng hợp tác kinh doanh, liên doanh, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không qúa 49%, 50% hoặc 51% , hoặc không hạn chế tùy theo từng loại hình dịch vụ logistics được phép cung cấp.

     Giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

     1. Giới hạn trách nhiệm là hạn mức tối đa mà thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho khách hàng đối với những tổn thất phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện dịch vụ logistics theo quy định tại Nghị định này.

     2. Trong trường hợp pháp luật có liên quan có quy định về giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics thì thực hiện theo quy định của pháp luật liên quan.

    3. Trường hợp pháp luật liên quan không quy định giới hạn trách nhiệm thì trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không có thỏa thuận thì thực hiện như sau:

          a) Trường hợp khách hàng không có thông báo trước giá trị của hàng hóa thì giới hạn trách nhiệm tối đa là 500 triệu đồng đối với mỗi yêu cầu bồi thường.

         b) Trường hợp khách hàng đã thông báo trước về giá trị của hàng hóa và được thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics xác nhận thì giới hạn trách nhiệm sẽ không vượt quá giá trị của hàng hóa đó.

     4. Giới hạn trách nhiệm đối với trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics tổ chức thực hiện nhiều công đoạn có quy định giới hạn trách nhiệm khác nhau là giới hạn trách nhiệm của công đoạn có giới hạn trách nhiệm cao nhất.

     Hy vọng Nghị định 163 sẽ góp phần mạnh mẽ vào việc đẩy mạnh phát triển ngành dịch vụ logistics Việt Nam trong quá trinh hội nhập và phát triển kinh tế đất nước. 

VLA 2018 - Nguyễn Tương.

Tin khác cùng danh mục

Tin khác ngoài danh mục

Top