Sống sao trong thời kỹ thuật số?

Chia sẻ bạn bè

Dịch Covid-19 tạo ra một cú hích cho nền kinh tế số, nhưng Việt Nam lại đang phải vật lộn với rào cản cơ sở hạ tầng và cả hàng rào pháp lý.

Tận dụng “cú hích” của Covid-19

Năm 2019 đánh dấu một bước tiến trong nhận thức của Việt Nam về vai trò của công nghệ và kỹ thuật số. Điều này được thể hiện qua hai văn bản quan trọng: Quyết định số 999/QĐ-TTg ngày 12-8-2019 phê duyệt “Đề án thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ” với mục tiêu đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các doanh nghiệp kinh doanh theo mô hình kinh tế chia sẻ và kinh tế truyền thống; và Nghị quyết 52/NQ-TW ngày 27-09-2019 của Bộ Chính trị về “Một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư”.

Mặc dù có nhận thức quan trọng nêu trên nhưng việc triển khai các chính sách liên quan đến kinh tế kỹ thuật số ở Việt Nam vẫn tương đối chậm. Trong bối cảnh ấy, đại dịch toàn cầu Covid-19 đã khiến cho quy trình “nhận thức - ban hành chính sách - thực thi chính sách - đánh giá kết quả” thay đổi đột ngột. Nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh phải chuyển sang nền tảng số hóa, từ tìm kiếm nhà cung ứng mới, đặt hàng, giao hàng, thanh toán trực tuyến đến những cuộc họp trực tuyến qua các phần mềm chuyên biệt. “Thiên nga đen” không chỉ làm nhiều doanh nghiệp nhận ra rằng chuyển đổi cách tổ chức sản xuất và kinh doanh trên các nền tảng kỹ thuật số là một lựa chọn khi có đủ điều kiện mà nó đã trở thành phương án bắt buộc.

Một báo cáo năm 2018 của Google và Công ty Đầu tư nhà nước Temasek (Singapore) đã mô tả nền kinh tế kỹ thuật số của Việt Nam là “một con rồng đang được tháo xích” khi tăng trưởng hơn 40%/năm. Năm 2019, Google và Hiệp hội Tiếp thị di động tiếp tục ra báo cáo xác định Việt Nam là “thị trường di động hàng đầu” với “hơn 51 triệu điện thoại thông minh, chiếm hơn 80% dân số từ 15 tuổi trở lên”. Nền kinh tế kỹ thuật số Đông Nam Á sẽ tạo ra nhiều hơn 240 tỉ đô la Mỹ vào năm 2025, trong đó có 102 tỉ đô la đến từ thương mại điện tử. Nhưng Việt Nam vẫn đang phải vật lộn với các rào cản cơ sở hạ tầng và cả hàng rào pháp lý. Do đó, nếu muốn tận dụng “cú hích” của Covid-19, cả Chính phủ và doanh nghiệp đều cần thay đổi mạnh dạn hơn và có tầm nhìn hơn nữa.

Chính phủ cần chuẩn bị những gì?

Đầu tiên, Chính phủ cần xác định mình muốn gì ở trong chiến lược phát triển mới này. Chẳng hạn, Việt Nam cần xây dựng mới một hệ sinh thái tương tự những gì các nước làm hay muốn tận dụng hệ sinh thái đó và chỉ phân chia lại lợi ích? Chúng ta muốn có kênh như Youtube hay chỉ cần các chính sách khuyến khích các công ty sản xuất nội dung (content), các công ty phân tích và xử lý số liệu và chính sách để phân chia lại lợi nhuận giữa Youtube với các công ty nội địa?

Thứ hai, Chính phủ cần hiểu rằng xây dựng kinh tế kỹ thuật số là phân bổ lại nguồn lực giữa các ngành kinh tế và các nhóm lợi ích theo cách thức hoàn toàn mới. Vì thế, cần có tư duy quản trị kinh tế hiện đại và mạnh mẽ hơn nữa. Tương lai của nền kinh tế toàn cầu sẽ không chỉ quyết định bởi các hoạt động truyền thống mà bởi hàng triệu hoạt động hiện giờ chưa ai tưởng tượng ra được. Để thích ứng với viễn cảnh đó, chúng ta cần có những người am hiểu xu hướng lớn toàn cầu để mạnh dạn đưa ra các ý tưởng và tìm kiếm các biện pháp khả thi. Chính phủ không cần tưởng tượng là nền kinh tế chia sẻ sẽ như thế nào, điều đó để doanh nghiệp tự trả lời. Đó là lý do vì sao cần có chính sách hỗ trợ để hình thành nên các doanh nghiệp trụ cột. Nhưng điều này cần được tiến hành bằng cách kết hợp linh hoạt các công cụ thị trường chứ không phải công cụ kế hoạch hóa. Cụ thể, phải có kỷ luật tài chính, áp lực về mục tiêu và đặc biệt là tính cạnh tranh của thị trường. Để từ đó sẽ có các nhà vô địch có đủ năng lực sinh tồn.

Thứ ba, cần chuẩn bị về cơ sở hạ tầng cho kinh tế kỹ thuật số. Hạ tầng viễn thông và công nghệ thông tin rất quan trọng, nhưng đó mới chỉ là phần nổi của hệ thống “hạ tầng kỹ thuật số”. Doanh nghiệp thương mại điện tử sẽ không tận dụng được tốc độ mạng 5G nếu kho bãi không có, đường sá không thông suốt, chi phí logistics cao, thủ tục hải quan rườm rà. Vì thế, phát triển kinh tế kỹ thuật số chính là tổ chức lại cách phân bổ và sử dụng nguồn lực bằng các “công cụ kỹ thuật số” để cho đời sống thực (phisical) đạt được hiệu quả cao hơn. Một hợp tác xã ở Hà Giang có thể không cần phải xây dựng một trang bán hàng cho mình, nhưng Chính phủ có thể giúp những người mua hàng tìm đến Hà Giang bằng cách không ngăn cản các cơ hội kinh doanh của họ. Vì vậy, hàng loạt chính sách đi kèm như đăng ký kinh doanh, điều kiện sản xuất kinh doanh, thuế thu nhập/thuế doanh thu từ thương mại điện tử và kinh tế nền tảng... sẽ cần được xây dựng mới.

Thứ tư, một đặc tính của hệ thống pháp luật là nó luôn được điều chỉnh và phải điều chỉnh cho phù hợp với tình hình mới. Về khuôn khổ pháp lý, càng chậm trễ trong việc có hệ thống văn bản pháp lý phù hợp, khuyến khích sự phát triển của kinh tế kỹ thuật số thì hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng (kỹ thuật số) càng thêm lãng phí. Không ai có thể tham gia giao thông trên đường cao tốc nếu không biết luật cho phép tốc độ chạy tối thiểu - tối đa bao nhiêu, chạy bên trái hay bên phải, có được chạy giật lùi hay không.

Thứ năm, xây dựng tiêu chuẩn quản trị dữ liệu là điều thiết yếu để kinh tế kỹ thuật số phát triển lành mạnh. Có hai thách thức với mọi chính phủ liên quan đến kinh tế kỹ thuật số là vấn đề (i) chủ quyền và (ii) tính riêng tư cá nhân. Trong khi “chủ quyền trên không gian mạng” vẫn cần nhiều đánh giá tiếp theo thì Việt Nam cần coi dữ liệu cá nhân là một khía cạnh của quyền của con người chứ không phải là một dạng tài nguyên kinh tế.

Thứ sáu, phát triển kinh tế kỹ thuật số sẽ làm Việt Nam đối diện với hai thách thức chưa từng có. Việt Nam sẽ nhanh chóng mất lợi thế của một đất nước có ưu thế ở các ngành thâm dụng lao động. Công nghệ số hóa sẽ khiến việc lựa chọn sản xuất không còn phụ thuộc nhiều vào lao động mà vào cách thức tổ chức hoạt động. Bên cạnh đó là sự suy giảm việc làm do thị trường lao động sẽ được cấu trúc lại cho phù hợp với quy trình tổ chức mới.

Những điều doanh nghiệp cần chú trọng

Kinh tế kỹ thuật số đòi hỏi một nhịp độ và cường độ công việc khác hẳn với nền kinh tế trước đây. Để tạo ra hoặc thích ứng với cường độ đó, các doanh nghiệp cần tập trung vào bốn bước:

Trước hết, bắt đầu bằng cách đánh giá tần suất xem lại dữ liệu có sẵn. Doanh nghiệp nên xem xét nhiều nguồn dữ liệu hàng tuần (hoặc thường xuyên hơn) để đánh giá nhu cầu thay đổi của khách hàng và đối tác kinh doanh cũng như hiệu suất của chính doanh nghiệp. Chẳng hạn, (i) phân bổ lại chi phí vốn giữa các đơn vị kinh doanh từ hàng năm sang hàng quí và có phương án phân bổ chi phí vốn theo từng tuần nếu xảy ra khủng hoảng; (ii) chia sẻ kết quả kiểm tra và học hỏi trong toàn tổ chức thì nên chuyển từ tháng sang từng tuần.

Tiếp đó là sự tập trung vào công nghệ. Sự thay đổi đột ngột sang các hoạt động và tương tác ảo cũng tạo cơ hội để đẩy nhanh tốc độ tìm hiểu và áp dụng các công nghệ đối với các doanh nghiệp. Một số mắt xích công nghệ sau là rất quan trọng: (i) bảo mật dữ liệu, (ii) khả năng mở rộng, (iii) tính khả dụng của các chức năng/dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp.

Ngoài ra, cần học hỏi trong khi mở rộng. Đây là một “kỹ năng” mới với doanh nghiệp. Mở rộng quy mô những gì doanh nghiệp học hỏi luôn là một trở ngại trong chuyển đổi kỹ thuật số. Việc chuyển đổi nhanh chóng sang quy mô đầy đủ trong nhiều loại hoạt động và giao diện kỹ thuật số đã mang đến nhiều thách thức.

Cuối cùng, quan sát hiệu ứng tương tác. Vì việc mở rộng nhanh chóng yêu cầu thay đổi đồng thời nhiều phần của mô hình kinh doanh hoặc hành trình khách hàng nên giờ là thời điểm quý giá để quan sát các hiệu ứng tương tác giữa nhiều biến số.

TS. Phạm Sỹ Thành

Link gốc bài viết: https://www.thesaigontimes.vn/303035/song-sao-trong-thoi-ky-thuat-so-.html

 

Top